Sau thực phẩm, giáo dục là nhu cầu số một của dân tộc ''

Ngày 16 tháng 08 năm 2018

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Góc thư giãn

Góc thư giãn

Cập nhật lúc : 11:05 03/10/2013  

Miên man Bồ Giang

Miên man Bồ Giang

 (Viết tặng làng quê Niêm Phò)       

 

 

"Buổi sáng biển mù, ông kể chuyện quê nhà, Huế và mẹ già, về cô em họ mỗi lần ra thành phố rực rỡ áo pull quần bò, một bữa ông về làng, cô chở rơm trên xe bò, áo rách và nón rách che lấy mặt. Ông dừng lại bảo, nghèo nên mặc xấu, việc gì phải ngượng. Ông kể cái làng Niêm Phò nghèo đến nỗi, cho người dì đau yếu hai mươi ngàn, dì thảng thốt, cho chi mà nhiều rứa, con".

 

Xin được mở đầu bài viết qua đoạn tản văn "Email thứ bảy" của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Nhân vật cô kể chính là nhà thơ Lê Văn Ngăn, một con người sống có vẻ lập dị (có thể tôi nghĩ thế). Có bận gặp ông và Phạm Tấn Hầu ở Huế ngồi trong quán cà phê trước cổng Hiển Nhơn trông ông buồn buồn. Mắt mơ màng theo từng đám rêu phong cổ thành. Ông vốn không thích khoa trương, không thích người lạ, không thích lợi danh, không thích những gì hào nhoáng bên ngoài. Thuở thiếu thời ông từng sống nơi làng quê Niêm Phò, bên dòng sông Bồ, rồi vào Huế sống bên dòng sông An Cựu, rồi định mệnh đưa ông lưu lạc đến Quy Nhơn. Văn chương theo ông đi suốt cuộc đời. Ông gởi gắm cô Tư :"văn chương và người làm văn chương đều rất đẹp, cháu à, chỉ là một số người khiến nó không đẹp nữa…”. Ông có cái nhìn về thơ thật bất ngờ thú vị: "...Đêm đêm, ở nơi xa/ con thường đặt vào lửa những bài thơ con mới viết/ Những gì vô ích/xin hãy biến thành tro tàn/ thành dưỡng chất cho những gì có ích sắp ra đời" (Thơ và tro tàn).

 

Tập thơ "Viết dưới bóng quê nhà" của Lê Văn Ngăn là những tâm sự về những con người bình dị chân chất. Cảm xúc ông thật chân thật giản dị như những nhân vật trong thơ ông. Ông viết về quê hương:"Nơi tôi có một mái nhà từ quá khứ, người mẹ đêm đêm thức dậy dưới nền trời sao, nhen lên bếp lửa đầu ngày/ Nơi anh em, dù lưu lạc nơi đâu, vẫn chờ tiết lập xuân tìm về chốn cũ..."

 

          Văn chương đã đưa tôi về làng quê Niêm Phò một ngày mùa đông thật nhiều mưa. Tôi ngồi bên góc quán nhỏ trầm tư. Dòng sông Bồ chảy nhẹ nhàng như mái tóc dài của người con gái  bềnh bồng sóng nước. Tôi mơ màng nhớ về người em gái sông Bồ ngày ấy. Một mối tình mà tôi luôn gìn giữ trong ký ức.Trong một thời gian dài tôi không nghe tin tức gì về em. Bây giờ em ở phương trời nào. Tôi chợt nhớ nụ hôn lần chia ly. Em khóc thật nhiều. Hôm đó trời mưa lớn. Tôi đi chuyến đò ngang cuối cùng của một câu chuyện tình. Bây giờ con đò không còn ở bến xưa. Chợt nhớ hai câu thơ Quách Tấn:"Tôi gọi đò một tiếng lạnh hư không".

 

          Tiếng chim đỗ quyên đánh thức tôi trở lại. Tôi  nghe hai câu thơ của nhà thơ Tố Hữu từ bên kia sông vọng sang :"Như quê bạn, Niêm Phò trơ trụi/Đạn bom cày cả nương sắn, đồng khoai..."

 

         Ôi mảnh đất thương yêu, trải lòng chịu mọi gian lao cơ cực, nơi ghi dấu những đau thương và mất mát. Những đợt lũ lụt liên miên từ năm này qua năm khác đã làm cho người dân tăng thêm nghị lực sống và tồn tại mãi mãi. Niêm Phò đất thấp trũng, nhiều đoạn bên sông bị xâm thực.  Đường sá hư hỏng nặng chưa được sửa chữa. Nhiều con đường qua hết mùa lụt mà vẫn còn bùn lầy lội.  

 

      Mảnh đất sỏi đá thấp trũng bùn lầy mang đầy dấu tích đau thương này lại là mảnh đất giàu truyền thống hiếu học, trọng nhân nghĩa, giàu lòng bác ái. Vào thời nhà Nguyễn làng có rất nhiều người đỗ đạt làm quan như các Phó bảng Trần Công Thuyên, Võ Sĩ, Nguyễn Văn Mại. Niêm Phò không những là đất văn học mà còn là đất sản sinh ra những người tài về quân sự như Trần Thúc Nhẫn, Nguyễn Hy Hiền, Nguyễn Vịnh... (Trần Thúc Nhẫn đỗ cử nhân năm Đinh Mão (1867). Ông có thời gian mở trường dạy học tại làng (Nguyễn Văn Mại từng là học trò). Ông làm quan đến chức Tham Tri Bộ Lễ, sau tham gia chống Pháp và hy sinh tại Trấn Hải Đài năm 1883).

       

           Người Lô Giang khí cốt ai bì

        ...Xem thế sự chi sờn gan lỗi lạc

 

         Đó là lời khen ngợi về con người Nguyễn Văn Mại khi ông treo ấn tư quan tỏ thái độ bất hợp tác với thực dân Pháp. Ông từng đỗ thủ khoa thi Hương, rồi Phó Bảng khoa Kỷ Sửu (l889), được bổ dụng Tri Phủ An Nhơn (Bình Định), làm quan đến chức Thượng Thư.Ông từng làm Chánh chủ khảo các khoa thi Hương, thi Hội và Quản giáo môn Hán văn tại trường Quốc học. Ông từng công du qua Pháp với vua Khải Định. Trước khi về hưu, ông được thăng tước Hiệp Tá Đại học sĩ. Ông để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn chương như Lô Giang tiểu sử, Việt Nam phong sử, Tây hành nhật ký và nhiều tác phẩm giá trị khác. Ông mất vào dịp tết Ất dậu 1945; lúc đó không những con cháu mà làng cùng để tang ông.Con trai ông, Nguyễn Hy Hiền từng du học Pháp, là