Người thầy giáo trung bình thích giải thích, những thầy giáo giỏi, thầy giáo năng khiếu tiết lộ những giản đơn "

Ngày 27 tháng 06 năm 2017

ĐĂNG NHẬP TÀI KHOẢN

 » Góc thư giãn

Góc thư giãn

Cập nhật lúc : 11:05 03/10/2013  

Miên man Bồ Giang

Miên man Bồ Giang

 (Viết tặng làng quê Niêm Phò)       

 

 

"Buổi sáng biển mù, ông kể chuyện quê nhà, Huế và mẹ già, về cô em họ mỗi lần ra thành phố rực rỡ áo pull quần bò, một bữa ông về làng, cô chở rơm trên xe bò, áo rách và nón rách che lấy mặt. Ông dừng lại bảo, nghèo nên mặc xấu, việc gì phải ngượng. Ông kể cái làng Niêm Phò nghèo đến nỗi, cho người dì đau yếu hai mươi ngàn, dì thảng thốt, cho chi mà nhiều rứa, con".

 

Xin được mở đầu bài viết qua đoạn tản văn "Email thứ bảy" của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư. Nhân vật cô kể chính là nhà thơ Lê Văn Ngăn, một con người sống có vẻ lập dị (có thể tôi nghĩ thế). Có bận gặp ông và Phạm Tấn Hầu ở Huế ngồi trong quán cà phê trước cổng Hiển Nhơn trông ông buồn buồn. Mắt mơ màng theo từng đám rêu phong cổ thành. Ông vốn không thích khoa trương, không thích người lạ, không thích lợi danh, không thích những gì hào nhoáng bên ngoài. Thuở thiếu thời ông từng sống nơi làng quê Niêm Phò, bên dòng sông Bồ, rồi vào Huế sống bên dòng sông An Cựu, rồi định mệnh đưa ông lưu lạc đến Quy Nhơn. Văn chương theo ông đi suốt cuộc đời. Ông gởi gắm cô Tư :"văn chương và người làm văn chương đều rất đẹp, cháu à, chỉ là một số người khiến nó không đẹp nữa…”. Ông có cái nhìn về thơ thật bất ngờ thú vị: "...Đêm đêm, ở nơi xa/ con thường đặt vào lửa những bài thơ con mới viết/ Những gì vô ích/xin hãy biến thành tro tàn/ thành dưỡng chất cho những gì có ích sắp ra đời" (Thơ và tro tàn).

 

Tập thơ "Viết dưới bóng quê nhà" của Lê Văn Ngăn là những tâm sự về những con người bình dị chân chất. Cảm xúc ông thật chân thật giản dị như những nhân vật trong thơ ông. Ông viết về quê hương:"Nơi tôi có một mái nhà từ quá khứ, người mẹ đêm đêm thức dậy dưới nền trời sao, nhen lên bếp lửa đầu ngày/ Nơi anh em, dù lưu lạc nơi đâu, vẫn chờ tiết lập xuân tìm về chốn cũ..."

 

          Văn chương đã đưa tôi về làng quê Niêm Phò một ngày mùa đông thật nhiều mưa. Tôi ngồi bên góc quán nhỏ trầm tư. Dòng sông Bồ chảy nhẹ nhàng như mái tóc dài của người con gái  bềnh bồng sóng nước. Tôi mơ màng nhớ về người em gái sông Bồ ngày ấy. Một mối tình mà tôi luôn gìn giữ trong ký ức.Trong một thời gian dài tôi không nghe tin tức gì về em. Bây giờ em ở phương trời nào. Tôi chợt nhớ nụ hôn lần chia ly. Em khóc thật nhiều. Hôm đó trời mưa lớn. Tôi đi chuyến đò ngang cuối cùng của một câu chuyện tình. Bây giờ con đò không còn ở bến xưa. Chợt nhớ hai câu thơ Quách Tấn:"Tôi gọi đò một tiếng lạnh hư không".

 

          Tiếng chim đỗ quyên đánh thức tôi trở lại. Tôi  nghe hai câu thơ của nhà thơ Tố Hữu từ bên kia sông vọng sang :"Như quê bạn, Niêm Phò trơ trụi/Đạn bom cày cả nương sắn, đồng khoai..."

 

         Ôi mảnh đất thương yêu, trải lòng chịu mọi gian lao cơ cực, nơi ghi dấu những đau thương và mất mát. Những đợt lũ lụt liên miên từ năm này qua năm khác đã làm cho người dân tăng thêm nghị lực sống và tồn tại mãi mãi. Niêm Phò đất thấp trũng, nhiều đoạn bên sông bị xâm thực.  Đường sá hư hỏng nặng chưa được sửa chữa. Nhiều con đường qua hết mùa lụt mà vẫn còn bùn lầy lội.  

 

      Mảnh đất sỏi đá thấp trũng bùn lầy mang đầy dấu tích đau thương này lại là mảnh đất giàu truyền thống hiếu học, trọng nhân nghĩa, giàu lòng bác ái. Vào thời nhà Nguyễn làng có rất nhiều người đỗ đạt làm quan như các Phó bảng Trần Công Thuyên, Võ Sĩ, Nguyễn Văn Mại. Niêm Phò không những là đất văn học mà còn là đất sản sinh ra những người tài về quân sự như Trần Thúc Nhẫn, Nguyễn Hy Hiền, Nguyễn Vịnh... (Trần Thúc Nhẫn đỗ cử nhân năm Đinh Mão (1867). Ông có thời gian mở trường dạy học tại làng (Nguyễn Văn Mại từng là học trò). Ông làm quan đến chức Tham Tri Bộ Lễ, sau tham gia chống Pháp và hy sinh tại Trấn Hải Đài năm 1883).

       

           Người Lô Giang khí cốt ai bì

        ...Xem thế sự chi sờn gan lỗi lạc

 

         Đó là lời khen ngợi về con người Nguyễn Văn Mại khi ông treo ấn tư quan tỏ thái độ bất hợp tác với thực dân Pháp. Ông từng đỗ thủ khoa thi Hương, rồi Phó Bảng khoa Kỷ Sửu (l889), được bổ dụng Tri Phủ An Nhơn (Bình Định), làm quan đến chức Thượng Thư.Ông từng làm Chánh chủ khảo các khoa thi Hương, thi Hội và Quản giáo môn Hán văn tại trường Quốc học. Ông từng công du qua Pháp với vua Khải Định. Trước khi về hưu, ông được thăng tước Hiệp Tá Đại học sĩ. Ông để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn chương như Lô Giang tiểu sử, Việt Nam phong sử, Tây hành nhật ký và nhiều tác phẩm giá trị khác. Ông mất vào dịp tết Ất dậu 1945; lúc đó không những con cháu mà làng cùng để tang ông.Con trai ông, Nguyễn Hy Hiền từng du học Pháp, là người nổi tiếng chế tạo vũ khí chống tăng một thời làm quân Pháp khiếp sợ. Cụ Mại còn có có người con tài danh là linh mục Nguyễn Văn Thích là con người sống đạo hạnh tiếng thơm lan tỏa.

 

         Sông Bồ đang mùa nước lớn. Tháng trước một trận lụt tràn qua một cách bất ngờ làm dân chúng điêu đứng không trở tay kịp. Ruộng đồng đang mùa gặt chìm vào trong nước. Các em học sinh không về kịp phải lội ngang bụng. Lúc đó khoảng 10 giờ sáng. Trên cầu Niêm Phò nhiều người dân dõi trông theo dòng nước đang chảy xiết để tìm những khúc gỗ to trôi vể từ thượng nguồn như cố vớt vát những của cải tinh thần đã bị bão lụt lấy đi từ năm này qua năm khác. Lúc đó tôi có mặt gần cầu Niêm Phò và chứng kiến người đàn ông họ Võ tuổi trên sáu mươi nhanh nhẹn lao người từ cầu xuống dòng nước cuồn cuộn. Trong giây lát ông bám theo một khúc gỗ to kéo nó vào bờ. Tôi không khuyến khích hành động này nhưng thâm tâm khâm phục sức mạnh tiềm tàng của ông. Ông là con cháu dòng họ Võ từng đỗ đạt thành danh, là một trong dòng họ được dân làng Niêm Phò kính trọng. Tôi thật sự vô cùng khâm phục những người dân làng Việt Nam cũng như dân làng Niêm Phò nói riêng đã lưu giữ được nền văn hóa truyền thống của quê hương mình. Người ta thường nói rằng mất văn hóa làng là mất nước. Có như vậy mà tên tuổi dòng máu Việt Nam luôn luôn tỏa sáng bất diệt giữa bầu trời cao. Nếu có dịp đi thuyền từ thượng nguồn sông Bồ hoặc thượng nguồn sông Hương xuôi về  chúng ta mới thấy được cái đẹp truyền thống của quê hương làng xã Việt Nam.

 

       Mưa nặng hạt. Phía xa xa hai bên bờ sông người ta đang hăng say cổ vũ cho các đội đua ghe. Người dân làng cũng có những phút giây thư giãn thú vị. Họ quên đi  những lo toan cuộc sống đang những ngày đông nông nhàn khốn khó.

 

      Những chiếc ghe lướt gió. Mưa càng lúc càng nhiều. Người xem càng ngày càng đông. Ghe đua càng lúc càng gay cấn. Không những dân làng Niêm Phò mà dân làng lân cận có đội đua đều đến xem đông nghịt một khúc sông Bồ chảy qua làng Niêm Phò.Các tay đua khỏe mạnh đang gồng mình tăng tốc, lướt nhanh thêm mái chèo. Những mái chèo di chuyển đều đặn như một điệu múa hiện đại.Trong những giây phút này trông những khuôn mặt từ vận động viên đến khán giả đều  ngời ngời khí thế. Kết thúc đội ghe nào chiến thắng là cả làng ăn mừng. Một bức tranh đồng quê sinh động tân cổ điển.

 

       Tôi thu mình trong quán nhỏ bên cầu Niêm Phò. Tạm quên tiếng ồn ào ngoài kia. Nhiều lúc thích ngồi trầm tư một mình để nhìn cơn mưa và mong chờ những gì chưa đến. Tôi thỉnh thoảng đến đây vào những ngày trời trở rét hoặc những khi mưa về. Nhà thơ Hồ Dzếnh thì chỉ muốn trời rét. Thơ ông:"Trời không nắng cũng không mưa/Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung".

 

      Những giọt mưa đang ném chéo xuống sông Bồ rồi tan đi xuôi về hạ nguồn. Tôi cũng tan theo.Trang rót cho tôi ly nước ấm. Cô phụ mẹ bán quán nhiều năm nay. Bàn tay trắng mềm mại và thân hình mảnh mai như cánh cò thướt tha làm trái tim tôi liêu xiêu trong chiều gió. Cô như bông hoa đồng nội mà thiên nhiên đã ban tặng cho làng quê Niêm Phò. Một chiếc lá bàng nâu đỏ đang trôi giữa dòng nước hay dòng máu trái tim tôi lang thang trong khoảng trời vô định. Cám ơn Trang cho tôi nụ cười êm mát như dòng sông Bồ hiền hòa, như cánh đồng lúa xanh mướt làm  tôi miên man trong suốt giấc mơ chiều.

 

                                                                           Niêm Phò những ngày cuối năm 2008

                                                                                                            Ngô Thiên Thu

 

 

 

 

tyle=d� tf@�`� al'>

 

                                                                                                                                                                                                                             Mùa thu 2008

                                                                                                                                                                                                                           Ngô Thiên Thu

 

Chú thích:

(1)Phước Yên nay là thôn Phước Yên, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

(2) Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn: "Chúa Thượng sai Đăng Quận Công là Nguyễn Khải đi đón Văn Quận Công và Hữu Quận Công. Phúc Nguyên biết rõ âm mưu ấy, lùng bắt Văn và Hữu rồi giết hết cả đảng phái. Phúc Nguyên oán giận và khinh nhờn triều đình từ đó"

 (3) Ô Châu Cận Lục, Dương Văn An, tân dịch hiệu đính của Trần Đại Vinh và Hoàng Văn Phúc.Các làng này hiện thuộc xã Quảng Thọ, Quảng Điền. Theo chúng tôi bản dịch hiệu đính này có ít nhiều nhầm lẫn về các chú giải địa danh.

(4) Nguyễn Hữu Tấn người Thanh Hóa di cư vào Bình Định. Ông có tướng mạo oai hùng . Lòng bàn chân có 7 nốt ruồi. Ông được Đào Duy Từ gả con gái và tiến cử với chúa Nguyễn. Ông có công lớn trong công cuộc bảo vệ giang sơn cho chúa Nguyễn. Người bắc gọi ông là Hổ uy đại tướng. Ông mất năm 1666 tại Quảng Bình. Thời Gia Long ông được đưa vào thờ ở miếu Khai quốc công thần. Năm Minh Mạng thứ 12 truy tặng là khai quốc công thần Đặc tiến Tráng vũ tướng quân Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Thái bảo, thụy là Tương vũ, phong là Anh quốc công.

(5) Chùa trong văn bản có tên là Quảng Phúc Tự. Phía mặt sau cổng chùa có hai hàng chữ Hán :Thiên ứng địa linh trang nghiêm tự/ Thần phù Phật độ Phước Yên Thôn. Trong chùa còn lưu giữ một số di vật xưa như chuông đồng đúc thời Minh Mạng.

(6)Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược.

(7) Miếu được trùng tu vào thời Minh Mạng.. Miếu được trùng tu sau cùng là vào năm 2000. Phía trên cao chính diện có hàng chữ Hán: Trung Thiên Chính Khí. Hai bên có hàng câu đối: “Trần thanh ma giới giã vô yên/ Ngân điện sơn hà triều hữu phước”. Ông sau được nhà Nguyễn thờ tại Thái miếu và được truy tặng khai quốc công thần Đặc tiến Tráng vũ tướng quân, Thái phó, thụy Nghị vũ, phong là Tĩnh quốc công Nguyễn quý công tôn thần.

 (8) Hoàng Lâm, Kinh thành Huế và Vương triều Nguyễn (Phần VI): “Sau khi Nguyễn Hữu Đạt qua đời, Nguyễn Phúc Lan đã lập bài vị thờ ông tại đây như một hành động đền đáp ơn nghĩa vị trung thần.”.

(9)  Lê Quý Đôn chép trong Phủ biên tạp lục: “Năm thứ hai niên hiệu Đức Long vua Lê Thần Tông, tức năm 1630, mùa xuân, Đào Duy Từ xây đắp một lũy dài từ núi Trường Dục xuống đến vùng đồng nội, tiếp giáp với bãi cát biển cạn”. Lũy Thày kéo dài từ núi Đâu Mâu đến cửa biển Nhật Lệ rồi men theo sông Lệ Kỳ và sông Nhật Lệ tiến lên phía đông bắc đến làng Đông Hải.(Di tích được xếp hạng cấp quốc gia năm 1992 hiện xuống cấp trầm trọng. Hàng chục ngôi nhà xây ngang nhiên trên di tích trước sự hững hờ của các cấp quản lý.Tháng 8 năm 2008 chúng tôi có tham quan địa điểm này.Một số hộ dân nói rằng chính quyền đã cấp chủ đất cho họ ngay trên đất di tích này!!!).

(10) Thơ Bích Khê